Khoảng năm 10xx sau công nguyên, ở về phía Đông nước Đại Việt, có một người đi đánh cá buổi đêm trên Đông hải, thấy có ngôi sao to bằng cái đấu xa xuống nước, ánh sáng toé ra khắp nơi, cá xung quanh đều chết nổi lên, rùa tai đỏ hoành hành bá đạo. Cũng năm đó, có người nuôi gà công nghiệp ở về phía Tây nước Đại Việt thấy gà trống đẻ trứng và kêu cục ta cục tác, đem trứng đi luộc lúc bóc vỏ lại có màu đỏ như máu rất là quái dị. Năm sau, mưa đá và tuyết đổ dầy khắp cả một vùng bên Nam. Lại năm sau nữa, trâu bò chó lợn của mấy tỉnh bên Bắc đều không bị bệnh gì mà móng với tai xanh lè lè rồi lăn cả ra chết trong một đêm. Tất cả những điềm quái lạ đó làm cho dân chúng rất là hoảng sợ.
Thì quả nhiên, hai năm sau nữa, giặc giã nổi lên khắp nơi. Nhân dân sống trong lầm than, kêu trời ko thấu, kêu đất ko hay.
-Mạn miền Nam có đảng giặc khăn vàng, cầm đầu là 3 anh em nhà Tự sướng hội, Thích gái hội, Râm rê hội với chuyên ngành đong đưa trêu hoa ghẹo nguyệt...
-Mạn miền Trung thì Game hội, Chán đời hội, giết thuê hội với chuyên ngành đâm thuê chém mướn, giết người đòi nợ thuê...
-Mạn Hà Nội hồi ấy có chị em nhà Hội nhà giàu, Hội tiểu thư, Hội công chúa nổi lên nhanh chóng vùng vẫy khắp 1 vùng rộng lớn, tập hợp dưới trướng hàng ngàn đầu lĩnh và thủ hạ lớn nhỏ, chủ trị về ngón đập đá vũ trường và chơi xe tiền tỷ
Hồi ấy, Ở về mạn Bắc núi Bò, đất Hồng Lĩnh, có một làng nhỏ thưa thớt người sống. Khi xưa, có ông thày địa lý mù đeo kính Gucci, lúc đi qua làng này đã ngửa mặt than thầm rằng: Linh địa, linh địa! Đất này, đầu gối núi Bò, chân nhúng vào dòng Tô Lịch, hai bên sườn có làng hoa Ngọc Hà và Giảng Võ đường yểm trợ, ắt là đất có long mạch, sẽ sinh anh hùng. Vào cái buổi loạn lạc nói trên, dân trong làng bỏ đi hết, chỉ còn lại một nhà kia gồm một mẹ già và một cậu con trai nhỏ. Cậu bé này, hình dong thật cổ quái: trán hùm, lưng gấu, miệng beo, tay vượn, mắt sáng tựa sao Khuê, tiếng nói như tiếng hổ gầm, 3 tuổi đọc xong Tứ thư, Ngũ kinh, 4 tuổi học xong C++, 5 tuổi đã làu thông kinh sử, chat chit như thần, thật là bậc anh hùng lỗi lạc. Thôi, nói luôn cho nhanh: người anh hùng đó chính là Đinh Bộ Lĩnh.
Đinh Bộ Lĩnh lớn lên lúc loạn lạc, lòng vô cùng đau xót thấy cảnh phía Bắc đánh đu đú đởn, phía Nam thì ghẹo nguyệt trêu hoa, trong Sài Gòn thì stylist nở hoa. Miền Trung thì đâm thuê giết mướn. Bèn chiêu mộ trai tráng, ngày đêm tập luyện, chủ tớ coi nhau như anh em, rất là tâm phúc, được lòng người. Năm 25 tuổi, họ Đinh dẹp loạn các sứ quân, lên ngôi vua, lấy quốc hiệu là Đinh Tiên Hoàng, miễn thuế cho dân 3 năm, lại ra lệnh khai khẩn đất và mở kho phát muối; thật là hưng thịnh. Đấy là lúc câu chuyện HVĐ bắt đầu.
Lại nói, sau khi dẹp loạn, Đinh Tiên Hoàng ra sắc dụ yên dân, đồng thời để thị uy dân chúng, bèn đem tất cả các đầu lĩnh lớn nhỏ của các sứ ra chém. Gồm có anh hùng, anh thư, hảo hán và nữ hảo hản, rồi cả hotboy, hotgirl. Tương truyền, ngày những vị này bị đem chém chung, trời đất mịt mù, sông suối ngừng chảy, cỏ cây héo úa. Đinh Tiên Hoàng phải lệnh cho các đạo sỹ đem thủ cấp của những tên giặc cỏ này bỏ vào một cái hố trên đỉnh núi Hồng Lĩnh quanh năm mây phủ, rồi yểm bùa "Id:pass là gì, Pass: bố đéo biết" bên ngoài, sai người canh giữ cẩn mật, lệnh không cho ai được mở ra; nếu không yêu khí của những kẻ bị chặt đầu sẽ thoát ra, đầu thai trở lại, gây nhiễu nhương cho dân lành.
Nhưng xuân qua, hè tới, thu đến, đông về. Thấm thoát đã 80 năm năm. Đinh Tiên Hoàng tuổi cao băng hà, truyền ngôi lại cho các con. Rồi tháng ngày thoi đưa, thiên hạ thái bình nên không ai còn để ý đến bùa yểm trên đỉnh Hồng Lĩnh. Một ngày xuân phơi phới ánh hào quang, hây hẩy gió nồm, có đứa trẻ chăn trâu ngêu ngao đi kiếm củi qua, tò mò bóc miếng bùa yểm nơi chân núi ra. Thì kìa. Chỉ nghe ầm ầm vang động như thể một góc núi sạt lở; rồi từ trên đỉnh Hồng Lĩnh, người ta thấy cơ man nào là đạo hào quang toả đi khắp bốn phương. Những quái nhân đã được đầu thai, để rồi cả ngàn năm sau đời này truyền đời khác tạo nên những kẻ ăn tàn phá hại, chém gió, ăn vạ... lập lên cái mà người ta gọi là HVĐ diễn nghĩa như các bạn đã thấy.
Tuy nhiên, cũng chính vào năm có các điềm gở trên, ở ngay đất Hồng Lĩnh, một ngày nọ, có một ông già râu tóc bạc phơ thong thả cưỡi xe Súp pơ Cúp đi qua, rồi dạy cho bọn trẻ chăn trâu ngoài bãi sông Tô Lịch một bài đồng dao như sau:
Có duyên trăm ngày
Thành tôi và chủ
Có duyên trăm tuần
Nên bạn nên bè
Có duyên trăm tháng
Làm anh chị em
Có duyên trăm năm
Nên chồng nên vợ
Có duyên ngàn năm
Được thành mem hội, được thành mem hội...!
Bài đồng dao trên được truyền tụng khắp các làng, lan ra khắp cả một vùng rộng lớn. Không ai hiểu ý nghĩa của hai câu cuối ra sao. Đành chỉ biết truyền nhau như thế. ấy là nhằm vào năm 1000 sau công nguyên.
Buổi sáng ngày ra, người chép sử này ở trong lều tranh, nghe con chim khách đầu nhà kêu lảnh lót, lòng mừng vui lại có bạn đến chơi. Thì xảy đâu, có đứa tiểu đồng vào báo người bạn tri âm vừa mất xe đạp. Đời người quả là hoạ phúc sớm tối, không có gì trường tồn vĩnh cửu, thấy người ta cứ bám vào lợi và danh, chẳng phải là vô nghĩa lý lắm ru...
Anyway, trải bao thỏ lặn ác tà, trăng tròn rồi khuyết, thấm thoát đã hơn 1000 năm trôi qua. Nhằm vào năm 20xx sau Công nguyên, đất Đại Việt bỗng đâu nổi lên một chốn rất kỳ quái có tên là Phây sờ Búc. Đất này, kênh rạch chằng chịt, lau lách um tùm, đã vào là không có lối ra; mỗi một vùng page nhỏ có đầu lĩnh cát cứ, thẳng tay del bài, ban nick những kẻ lạ mặt yếu thế. Tụ về đất này toàn dân đâm thuê chém mướn, rạch mặt ăn vạ, bỏ học đi chơi, trốn nhà đi bụi, xa nhà nhớ mẹ, trốn việc cơ quan, vô công rồi nghề, vv...vô cùng ác liệt. Ngày nào dân trong chốn này cũng tụ nhau ở wall để đấu võ miệng, nhằm phân cao thấp, đặng chia vùng mà làm ăn kiếm cơm qua ngày.
Một ngày chợ phiên đông vui nọ, người trong vùng thấy có một đại hán cao lớn, miệng rộng một gang, lưng như tấm phản, dáng đi như hổ vồ, tóc dài bồng bềnh keo bọt, khoác áo đỏ (chứng tỏ nhà quê!), tay hữu sử một vật gì hình tròn, màu trắng; tay tả khoác một cái đẫy vải log vào homepage của facebook. Người này đặt phịch tay nải, rồi gọi tửu bảo thái một cân thịt bò và mang một vò rượu lớn lên. Đoạn uống ừng ực, vừa uống vừa hát khật khừ “Tình là tình nhiều khi không mà có...Tình là tình nhiều lúc có như không...hự...ợ”. Rất là ung dung, tao nhã!
Giữa lúc đó, chợt nghe vút vút, rồi một bóng xiêm y lướt vào giữa phòng. Cô nương này chỉ kịp kêu “Kíu...kíu...” rồi lăn ra bất tỉnh nhân sự, miệng thổ ra một ngụm máu, thoáng nhìn cũng biết đã trúng độc. Khách ăn trong tửu điếm chưa kịp hiểu đầu đuôi thì đã nghe vút vút mấy tiếng nữa. Kìa! Một bóng người đáp nhẹ xuống giữa page. Có bài thơ làm chứng về người này như sau:
Mình khoác áo choàng xanh
Lưng giắt ngang trường kiếm
Xương xem ra không hiếm
Nhưng thịt thiếu vài cân
Thư sinh loẻo ngoẻo thừa xương thiếu thịt trên vừa đáp xuống đất đã vươn tay định chụp lấy cô nương kíu kíu nọ. Nhưng bàn tay còn cách cô nương chừng 1 micrô mét thì lập tức rút phắt về vì một vật nhỏ vừa bay tới. Thì ra là một cái nút chai.Thanh bào thư sinh bèn quay sang hồng bào đại hán đang ngồi uống rượu quát lớn:
- To gan! Ngươi dám phá ngang ta ư?
- Hề hề...chú cứ nóng - đại hán trả lời, vẫn nốc rượu tì tì - anh tuy nông dân tí nhưng mà anh bản chất Lục Vân Tiên; giữa đường thấy sự bất bằng, bỏ qua thế đếk nào được...
- Đồ sất phu lỗ mãng, tự ngươi trêu vào tay lão gia, chết xuống âm phủ chớ trách.
- Chú bình từ đê... Biết anh là ai chưa mà to mồm gào thét thế nhở? Anh oánh cho tiệt nòng nọc bi h!
- Chớ liều nhời.
Lời chưa dứt, thư sinh gày đã xuỳ ra một đấm, nhằm giữa mẹt của hồng bào đại hán đánh tới. Thế mà đại hán nọ vẫn tỉnh như không. Chỉ khẽ thấy đại hán kêu lên một tiếng “Muỗi!” rồi lạng người chui qua gầm bàn mà bay lên không, đồng thời hữu trảo vươn ra vỗ bẹt một cái vào mặt thanh bào thư sinh. Mọi người trong quán vội nhìn kỹ thì thấy trên má thanh bào nọ có xác một con muỗi thật. Ai nấy đều vô cùng khâm phục, tấm tắc khen ngợi thân pháp phi phàm của đại hán.
Thanh bào thư sinh lúc đó vừa cảm kích vì được cứu khỏi giống muỗi độc, vừa cảm phục tài nghệ đại hán, vội vòng tay thi lễ:
- Thưa, tại hạ có mắt mà không thấy Thái Sơn, xin tôn huynh cho biết quý danh!
- Hề hề...Thái Sơn mới chả Thái Hà - đại hán cả cười - quý danh đếk gì; tên anh là Nam Do tự là Quẩy Nóng
- Trời.... Ra là Đào Hoa Kiếm Khách Nam Do đại K danh bất hư truyền với bộ kiếm quyết tự chế "Long phi tại gậm bàn" đó ư. Tại hạ là Vật vờ lãng tử Nam Khánh tự là Lẩu Mắm, thật trăm phần hổ thẹn đã dám vuốt râu hùm, may mà hôm nay bác dùng tay vả em, chứ nếu mà xài kiếm thì chắc có lẽ giờ em nuốt hận chia tay bộ ấm chén.
- À không, anh tuổi thỏ đếk phải hùm chú ạ. Thôi, ta làm tí, nhở!
- Vâng em xin!
Loáng cái, đã thấy tửu bảo trong quán bưng ra ba cân thịt bò cùng 5 hũ rượu. Hai người tình tự với nhau, thì ra cô gái kêu kiú kiú vừa rồi là 1 em chân dài chuyên lừa đảo tiền của những anh chàng nhẹ dạ tốt bụng, đã lừa của Nam Khánh rồi bùng, bị chàng đuổi ráo riết đến đây thì bất ngờ gặp Do đại K nhà ta, nghe thấy chuyện vậy Nam Do lấy làm bực tức lắm, thế là 2 thằng kết nhau làm huynh đệ, lôi con hàng vào cùng nhau thác loạn abc...xyz 1 chập bét nhè chè đỗ đen cho bõ tức, rồi cả 2 cùng bàn bạc mộng xưng bá thiên hạ, lập nên Vườn Chuối tụ nghĩa đường. Chẳng bao lâu, dưới trướng đã tụ về rất nhiều anh hùng, tuy phân rõ vế vai ngôi thứ nhưng tình thân như thủ túc, còn hơn cả anh em ruột thịt. Trên đầu là Đào Hoa Kiếm Khách Nam Do và Vật vờ lãng tử Nam Khánh; dưới trướng có Đông, Tây, Nam, Bắc trại chủ cùng các đầu lĩnh lớn nhỏ và thủ hạ kể đến hàng trăm, hàng ngàn người.
Tuy thế, đất Vườn chuối ngày càng chật hẹp, kém miếng làm ăn, một ngày nọ Nam Do trang chủ và Nam Khánh trang chủ quyết tiến binh ra khỏi Vườn Chuối, mở sơn hà mới, bắt đầu công cuộc dựng đất và quy tụ hào kiệt. Nam Do lên ngôi vua, lấy quốc hiệu là Thanh Niên xa vợ, đặt tên thành là Hội Củ Chuối. Lại sắc phong các chức tước tể tướng, tể phụ, cường hào, ác bá, quan văn quan võ, trưởng công an quận, xã...vv...ai nấy đều được ban thưởng. Riêng nhị trang chủ Nam Khánh (vẫn thừa xương thiếu thịt như ngày nào) thì xin về ở ẩn, tiêu dao giang hồ, thoắt ẩn thoắt hiện với biệt danh “độc thân vui tính”. Vài năm sau làm vui đùa đú đởn chán rồi trang chủ Nam Do điện thoại cho thằng đệ Nam Khánh kêu về có việc gấp, 2 huynh đệ lập đàn tế thần để tiến sang mảnh đất khác đặng kiếm cửa làm ăn, có người thày chiêm tinh, đêm trông thiên văn, thấy sao Thái Bạch đi vào địa phận sông Tô Lịch, sao Khuê bị một đám tinh tú nhỏ bâu lại làm lu mờ đã than rằng “ôi thôi thôi, thế là bọn quái nhân đã bắt đầu tụ về nơi net trại”
Thì quả nhiên, hai năm sau nữa, giặc giã nổi lên khắp nơi. Nhân dân sống trong lầm than, kêu trời ko thấu, kêu đất ko hay.
-Mạn miền Nam có đảng giặc khăn vàng, cầm đầu là 3 anh em nhà Tự sướng hội, Thích gái hội, Râm rê hội với chuyên ngành đong đưa trêu hoa ghẹo nguyệt...
-Mạn miền Trung thì Game hội, Chán đời hội, giết thuê hội với chuyên ngành đâm thuê chém mướn, giết người đòi nợ thuê...
-Mạn Hà Nội hồi ấy có chị em nhà Hội nhà giàu, Hội tiểu thư, Hội công chúa nổi lên nhanh chóng vùng vẫy khắp 1 vùng rộng lớn, tập hợp dưới trướng hàng ngàn đầu lĩnh và thủ hạ lớn nhỏ, chủ trị về ngón đập đá vũ trường và chơi xe tiền tỷ
Hồi ấy, Ở về mạn Bắc núi Bò, đất Hồng Lĩnh, có một làng nhỏ thưa thớt người sống. Khi xưa, có ông thày địa lý mù đeo kính Gucci, lúc đi qua làng này đã ngửa mặt than thầm rằng: Linh địa, linh địa! Đất này, đầu gối núi Bò, chân nhúng vào dòng Tô Lịch, hai bên sườn có làng hoa Ngọc Hà và Giảng Võ đường yểm trợ, ắt là đất có long mạch, sẽ sinh anh hùng. Vào cái buổi loạn lạc nói trên, dân trong làng bỏ đi hết, chỉ còn lại một nhà kia gồm một mẹ già và một cậu con trai nhỏ. Cậu bé này, hình dong thật cổ quái: trán hùm, lưng gấu, miệng beo, tay vượn, mắt sáng tựa sao Khuê, tiếng nói như tiếng hổ gầm, 3 tuổi đọc xong Tứ thư, Ngũ kinh, 4 tuổi học xong C++, 5 tuổi đã làu thông kinh sử, chat chit như thần, thật là bậc anh hùng lỗi lạc. Thôi, nói luôn cho nhanh: người anh hùng đó chính là Đinh Bộ Lĩnh.
Đinh Bộ Lĩnh lớn lên lúc loạn lạc, lòng vô cùng đau xót thấy cảnh phía Bắc đánh đu đú đởn, phía Nam thì ghẹo nguyệt trêu hoa, trong Sài Gòn thì stylist nở hoa. Miền Trung thì đâm thuê giết mướn. Bèn chiêu mộ trai tráng, ngày đêm tập luyện, chủ tớ coi nhau như anh em, rất là tâm phúc, được lòng người. Năm 25 tuổi, họ Đinh dẹp loạn các sứ quân, lên ngôi vua, lấy quốc hiệu là Đinh Tiên Hoàng, miễn thuế cho dân 3 năm, lại ra lệnh khai khẩn đất và mở kho phát muối; thật là hưng thịnh. Đấy là lúc câu chuyện HVĐ bắt đầu.
Lại nói, sau khi dẹp loạn, Đinh Tiên Hoàng ra sắc dụ yên dân, đồng thời để thị uy dân chúng, bèn đem tất cả các đầu lĩnh lớn nhỏ của các sứ ra chém. Gồm có anh hùng, anh thư, hảo hán và nữ hảo hản, rồi cả hotboy, hotgirl. Tương truyền, ngày những vị này bị đem chém chung, trời đất mịt mù, sông suối ngừng chảy, cỏ cây héo úa. Đinh Tiên Hoàng phải lệnh cho các đạo sỹ đem thủ cấp của những tên giặc cỏ này bỏ vào một cái hố trên đỉnh núi Hồng Lĩnh quanh năm mây phủ, rồi yểm bùa "Id:pass là gì, Pass: bố đéo biết" bên ngoài, sai người canh giữ cẩn mật, lệnh không cho ai được mở ra; nếu không yêu khí của những kẻ bị chặt đầu sẽ thoát ra, đầu thai trở lại, gây nhiễu nhương cho dân lành.
Nhưng xuân qua, hè tới, thu đến, đông về. Thấm thoát đã 80 năm năm. Đinh Tiên Hoàng tuổi cao băng hà, truyền ngôi lại cho các con. Rồi tháng ngày thoi đưa, thiên hạ thái bình nên không ai còn để ý đến bùa yểm trên đỉnh Hồng Lĩnh. Một ngày xuân phơi phới ánh hào quang, hây hẩy gió nồm, có đứa trẻ chăn trâu ngêu ngao đi kiếm củi qua, tò mò bóc miếng bùa yểm nơi chân núi ra. Thì kìa. Chỉ nghe ầm ầm vang động như thể một góc núi sạt lở; rồi từ trên đỉnh Hồng Lĩnh, người ta thấy cơ man nào là đạo hào quang toả đi khắp bốn phương. Những quái nhân đã được đầu thai, để rồi cả ngàn năm sau đời này truyền đời khác tạo nên những kẻ ăn tàn phá hại, chém gió, ăn vạ... lập lên cái mà người ta gọi là HVĐ diễn nghĩa như các bạn đã thấy.
Tuy nhiên, cũng chính vào năm có các điềm gở trên, ở ngay đất Hồng Lĩnh, một ngày nọ, có một ông già râu tóc bạc phơ thong thả cưỡi xe Súp pơ Cúp đi qua, rồi dạy cho bọn trẻ chăn trâu ngoài bãi sông Tô Lịch một bài đồng dao như sau:
Có duyên trăm ngày
Thành tôi và chủ
Có duyên trăm tuần
Nên bạn nên bè
Có duyên trăm tháng
Làm anh chị em
Có duyên trăm năm
Nên chồng nên vợ
Có duyên ngàn năm
Được thành mem hội, được thành mem hội...!
Bài đồng dao trên được truyền tụng khắp các làng, lan ra khắp cả một vùng rộng lớn. Không ai hiểu ý nghĩa của hai câu cuối ra sao. Đành chỉ biết truyền nhau như thế. ấy là nhằm vào năm 1000 sau công nguyên.
Buổi sáng ngày ra, người chép sử này ở trong lều tranh, nghe con chim khách đầu nhà kêu lảnh lót, lòng mừng vui lại có bạn đến chơi. Thì xảy đâu, có đứa tiểu đồng vào báo người bạn tri âm vừa mất xe đạp. Đời người quả là hoạ phúc sớm tối, không có gì trường tồn vĩnh cửu, thấy người ta cứ bám vào lợi và danh, chẳng phải là vô nghĩa lý lắm ru...
Anyway, trải bao thỏ lặn ác tà, trăng tròn rồi khuyết, thấm thoát đã hơn 1000 năm trôi qua. Nhằm vào năm 20xx sau Công nguyên, đất Đại Việt bỗng đâu nổi lên một chốn rất kỳ quái có tên là Phây sờ Búc. Đất này, kênh rạch chằng chịt, lau lách um tùm, đã vào là không có lối ra; mỗi một vùng page nhỏ có đầu lĩnh cát cứ, thẳng tay del bài, ban nick những kẻ lạ mặt yếu thế. Tụ về đất này toàn dân đâm thuê chém mướn, rạch mặt ăn vạ, bỏ học đi chơi, trốn nhà đi bụi, xa nhà nhớ mẹ, trốn việc cơ quan, vô công rồi nghề, vv...vô cùng ác liệt. Ngày nào dân trong chốn này cũng tụ nhau ở wall để đấu võ miệng, nhằm phân cao thấp, đặng chia vùng mà làm ăn kiếm cơm qua ngày.
Một ngày chợ phiên đông vui nọ, người trong vùng thấy có một đại hán cao lớn, miệng rộng một gang, lưng như tấm phản, dáng đi như hổ vồ, tóc dài bồng bềnh keo bọt, khoác áo đỏ (chứng tỏ nhà quê!), tay hữu sử một vật gì hình tròn, màu trắng; tay tả khoác một cái đẫy vải log vào homepage của facebook. Người này đặt phịch tay nải, rồi gọi tửu bảo thái một cân thịt bò và mang một vò rượu lớn lên. Đoạn uống ừng ực, vừa uống vừa hát khật khừ “Tình là tình nhiều khi không mà có...Tình là tình nhiều lúc có như không...hự...ợ”. Rất là ung dung, tao nhã!
Giữa lúc đó, chợt nghe vút vút, rồi một bóng xiêm y lướt vào giữa phòng. Cô nương này chỉ kịp kêu “Kíu...kíu...” rồi lăn ra bất tỉnh nhân sự, miệng thổ ra một ngụm máu, thoáng nhìn cũng biết đã trúng độc. Khách ăn trong tửu điếm chưa kịp hiểu đầu đuôi thì đã nghe vút vút mấy tiếng nữa. Kìa! Một bóng người đáp nhẹ xuống giữa page. Có bài thơ làm chứng về người này như sau:
Mình khoác áo choàng xanh
Lưng giắt ngang trường kiếm
Xương xem ra không hiếm
Nhưng thịt thiếu vài cân
Thư sinh loẻo ngoẻo thừa xương thiếu thịt trên vừa đáp xuống đất đã vươn tay định chụp lấy cô nương kíu kíu nọ. Nhưng bàn tay còn cách cô nương chừng 1 micrô mét thì lập tức rút phắt về vì một vật nhỏ vừa bay tới. Thì ra là một cái nút chai.Thanh bào thư sinh bèn quay sang hồng bào đại hán đang ngồi uống rượu quát lớn:
- To gan! Ngươi dám phá ngang ta ư?
- Hề hề...chú cứ nóng - đại hán trả lời, vẫn nốc rượu tì tì - anh tuy nông dân tí nhưng mà anh bản chất Lục Vân Tiên; giữa đường thấy sự bất bằng, bỏ qua thế đếk nào được...
- Đồ sất phu lỗ mãng, tự ngươi trêu vào tay lão gia, chết xuống âm phủ chớ trách.
- Chú bình từ đê... Biết anh là ai chưa mà to mồm gào thét thế nhở? Anh oánh cho tiệt nòng nọc bi h!
- Chớ liều nhời.
Lời chưa dứt, thư sinh gày đã xuỳ ra một đấm, nhằm giữa mẹt của hồng bào đại hán đánh tới. Thế mà đại hán nọ vẫn tỉnh như không. Chỉ khẽ thấy đại hán kêu lên một tiếng “Muỗi!” rồi lạng người chui qua gầm bàn mà bay lên không, đồng thời hữu trảo vươn ra vỗ bẹt một cái vào mặt thanh bào thư sinh. Mọi người trong quán vội nhìn kỹ thì thấy trên má thanh bào nọ có xác một con muỗi thật. Ai nấy đều vô cùng khâm phục, tấm tắc khen ngợi thân pháp phi phàm của đại hán.
Thanh bào thư sinh lúc đó vừa cảm kích vì được cứu khỏi giống muỗi độc, vừa cảm phục tài nghệ đại hán, vội vòng tay thi lễ:
- Thưa, tại hạ có mắt mà không thấy Thái Sơn, xin tôn huynh cho biết quý danh!
- Hề hề...Thái Sơn mới chả Thái Hà - đại hán cả cười - quý danh đếk gì; tên anh là Nam Do tự là Quẩy Nóng
- Trời.... Ra là Đào Hoa Kiếm Khách Nam Do đại K danh bất hư truyền với bộ kiếm quyết tự chế "Long phi tại gậm bàn" đó ư. Tại hạ là Vật vờ lãng tử Nam Khánh tự là Lẩu Mắm, thật trăm phần hổ thẹn đã dám vuốt râu hùm, may mà hôm nay bác dùng tay vả em, chứ nếu mà xài kiếm thì chắc có lẽ giờ em nuốt hận chia tay bộ ấm chén.
- À không, anh tuổi thỏ đếk phải hùm chú ạ. Thôi, ta làm tí, nhở!
- Vâng em xin!
Loáng cái, đã thấy tửu bảo trong quán bưng ra ba cân thịt bò cùng 5 hũ rượu. Hai người tình tự với nhau, thì ra cô gái kêu kiú kiú vừa rồi là 1 em chân dài chuyên lừa đảo tiền của những anh chàng nhẹ dạ tốt bụng, đã lừa của Nam Khánh rồi bùng, bị chàng đuổi ráo riết đến đây thì bất ngờ gặp Do đại K nhà ta, nghe thấy chuyện vậy Nam Do lấy làm bực tức lắm, thế là 2 thằng kết nhau làm huynh đệ, lôi con hàng vào cùng nhau thác loạn abc...xyz 1 chập bét nhè chè đỗ đen cho bõ tức, rồi cả 2 cùng bàn bạc mộng xưng bá thiên hạ, lập nên Vườn Chuối tụ nghĩa đường. Chẳng bao lâu, dưới trướng đã tụ về rất nhiều anh hùng, tuy phân rõ vế vai ngôi thứ nhưng tình thân như thủ túc, còn hơn cả anh em ruột thịt. Trên đầu là Đào Hoa Kiếm Khách Nam Do và Vật vờ lãng tử Nam Khánh; dưới trướng có Đông, Tây, Nam, Bắc trại chủ cùng các đầu lĩnh lớn nhỏ và thủ hạ kể đến hàng trăm, hàng ngàn người.
Tuy thế, đất Vườn chuối ngày càng chật hẹp, kém miếng làm ăn, một ngày nọ Nam Do trang chủ và Nam Khánh trang chủ quyết tiến binh ra khỏi Vườn Chuối, mở sơn hà mới, bắt đầu công cuộc dựng đất và quy tụ hào kiệt. Nam Do lên ngôi vua, lấy quốc hiệu là Thanh Niên xa vợ, đặt tên thành là Hội Củ Chuối. Lại sắc phong các chức tước tể tướng, tể phụ, cường hào, ác bá, quan văn quan võ, trưởng công an quận, xã...vv...ai nấy đều được ban thưởng. Riêng nhị trang chủ Nam Khánh (vẫn thừa xương thiếu thịt như ngày nào) thì xin về ở ẩn, tiêu dao giang hồ, thoắt ẩn thoắt hiện với biệt danh “độc thân vui tính”. Vài năm sau làm vui đùa đú đởn chán rồi trang chủ Nam Do điện thoại cho thằng đệ Nam Khánh kêu về có việc gấp, 2 huynh đệ lập đàn tế thần để tiến sang mảnh đất khác đặng kiếm cửa làm ăn, có người thày chiêm tinh, đêm trông thiên văn, thấy sao Thái Bạch đi vào địa phận sông Tô Lịch, sao Khuê bị một đám tinh tú nhỏ bâu lại làm lu mờ đã than rằng “ôi thôi thôi, thế là bọn quái nhân đã bắt đầu tụ về nơi net trại”
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét